Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim

Tháng Tư 8, 2018 8:45 sáng

Click chuột vào đường link dưới đây để tải bài viết

Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

GV: Giáo viên

– HS: Học sinh

– PPDH: Phương pháp dạy học

– GD: Giáo dục

GDTH: Giáo dục tiểu học

– DĐH: Đồ dùng dạy học

– GVCN: Giáo viên chủ nhiệm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. PHẦN MỞ ĐẦU
  2. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Với từng nhịp đập của thời gian.Con người, vạn vật không ngừng thay đổi và phát triển để tồn tại. Đặc biệt là con người, muốn vươn lên làm bá chủ vạn vật thì bản thân phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm, tích lũy để phát triển. Cội nguồn của mọi sự phát triển đó chính là sự phát triển của Giáo dục(GD)

Giáo dục chính là nền tảng phát triển của con người, thậm chí là tương lai của một đất nước. Để có một nền tảng giáo dục tốt cần phải có những người thầy giỏi, tận tâm, tận lực với nghề để đưa những chuyến đò tri thức cập bến.

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước. Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để phát triển mọi mặt sau này.

Nền tảng nhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản( nghe, nói, đọc, viết, và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộc đời con người. Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhất như cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng sáng tạo. Như vậy Giáo dục Tiểu học là nền tảng cho sự hình thành và phát triển toàn diện của con người.Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định. Vì thế làm tốt GDTH là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

Xác định được tầm quan trọng của GD như vậy thì GD nước nhà không thể dậm chân tại chổ theo lối dạy học truyền thụ một chiều,không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều, biết rộng mà chỉ cho trẻ cách hành động, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, đây mới là phương châm của nền GD mới.Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết sử dụng và kết hợp một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học, biết lựa chọn các hình thức tổ chức  phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Song để đi đến thành công GD đòi hỏi mọi người phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của mình. Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa mang tính nghệ thuật.. A.KO Men Xi đã viết “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn”. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim” để làm bài báo cáo thu hoạch của mình.

  1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Để đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu đòi hỏi đi đầu trong công cuộc đổi mới đó chính là GD. giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học tập của các em ở trường, chúng tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít. Chính vì vậy báo cáo này bước đầu đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1.

III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp1.

2.Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh lớp 1.

3.Đề xuất biện pháp và xây dựng kế hoạch nhằm phát huy tính tích cực , tự giác của học sinh tại trường.

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
  2. Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

  1. Khách thể nghiên cứu:

Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 21 em học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

  1. Phương pháp quan sát:

Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt… Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.

  1. Phương pháp thực nghiệm:

Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

  1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót và

những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình đạt chất lượng cao.

  1. Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:

Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đề xuất.

  1. Phương pháp đàm thoại:

Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò chuyện với một số phụ huynh học sinh. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết quả tốt nhất.

  1. Phương pháp thống kê, tính toán:

Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước như thế nào?

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữa trong quá trình nghiên cứu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?

Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình. Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, toàn bộ các tác động giáo dục của nhà trường sẻ không có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò. Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng học sinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục.

Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập, người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu để vận dụng vào kết quả học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hoàn thành. Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên phải có trình độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, vốn kinh nghiệm của học sinh. Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý, sự quan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hổ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chổ nhưng không làm thay. Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối xữ thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xữ nhưng luôn có thái độ chân thành. Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hổ trợ, đề cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của học sinh, gây dựng lòng tin ở học sinh và bản thân. Trong môi trường giáo dục, cần có sự thông hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên cơ sở tình cảm đạo đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng. Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng có tác dụng cảm hoá, thuyết phục cao trong công tác giáo dục.

1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Quá trình dạy học gồm hai hoạt động hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thúc đúng đắn.Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứ không phải là người day, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau. Như vậy mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Do đó cần thật sự coi trọng việc hình thành, phát triển những kỷ năng tự học và có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng.

    Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những kiến thức, kỷ năng, kỷ xão, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình. Vì vậy trong khi dạy học cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thụ các kiến thức, kỷ năng…biết biến những cái đó thành kiến thức, kỷ năng của mình. Nói cách khác là biết điều cần học thành cái “ vốn ”, cái “ tài sản ” của bản thân. Học tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các em được tăng cường hơn. Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được khơi dậy, phát triển và coi trọng. Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực

1.3. Tác dụng của dạy học tích cực

Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn. Dạy học phát huy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của người học. Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ vai trò chủ động hơn. Người học không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin. Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội thông tin, để giúp đỡ nhau trong học tập. Dạy học phát huy tính tích cực không chỉ giúp người học lĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và phát triển những kỷ năng học tập của mình, hình thành và phát triển cách học. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nâng cao hiệu quả

và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể làm cho học sinh:

– Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu kiến thức

– Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình.

– Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể

– Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B

Lớp 1B có 21 học sinh, trong đó có 10 em HS nữ, 11 em HS nam đều nằm trong độ tuổi sinh năm 2010

Sau 1 học kì, các cán bộ lớp luôn được thay đổi nhằm phát huy mọi năng lực chinh bản thân mỗi em. Bên cạnh đó sơ đồ vị trí lớp học luôn được thay đổi sau mỗi mỗi kì nhằm hạn chế các tật về mắt.

Các em học tập chăm chỉ, đạo đức tốt, sức khoẻ bình thường, ít em nghỉ học

* Thuận lợi: Đa số các em đều chăm ngoan, biết vâng lờ thầy cô, cha mẹ. Có ý thức học tập và lao động tốt, Biết giữ gìn vệ sinh cá nhâ, vệ sinh trường lớp sạch sẽ. Học sinh cùng độ tuổi sinh năm 2010 nên giáo viên thuận lợi trong việc quản lí và giáo dục học sinh. Đa số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em mình,các em được chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ khi đến lớp. Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, các phòng học đều có điện quạt, phục vụ cho việc dạy và học, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ.

* Khó khăn: Nhiều học sinh ở khá xa điểm trường, đường sá đi lại khó khăn, nhiều sông suối, rừng núi nên ảnh hưởng nhiều đến việc đến trường, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, nhiều học sinh phải nghỉ học. Một số em gia đình có hoàn cảnh khó khăn,con thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, con đông, ăn uống còn thiếu thốn nên không đảm bảo sức khỏe cho việc học tập ngày 2 buổi.Các em học sinh ở lứa tuối nhỏ, còn hiếu động, ham chơi hơn ham học, chưa có ý thức đầy đủ về học tập nên giáo viên rất vất vả, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn để sinh hoạt học tập đúng theo nội qui nhà trường, còn một số ít cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình nên việc truyền thụ kiến thức cho các em còn gặp khó khăn, trình độ học sinh không đồng đều.

2.2 Thực trạng của vấn đề

Hiện nay, phong trào đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa đang  được triển khai rộng khắp. Nội dung dạy học thay đổi kéo theo sự thay đổi về phương pháp dạy học. Bản chất của phương pháp dạy học mới chính là sự tích cực hoá hoạt động người học, tức là phát huy tính tích cực của người học.Tuy nhiên việc phát huy tính tích cực của học sinh còn nhiều vấn đề cần thảo luận, bàn cãi. Hiện nay, học sinh lớp 1 chưa tích cực, tự giác tham gia vào quá trình dạy học. Học sinh rụt rè không chủ động tìm tòi, tiếp nhận tri thức. Học sinh chưa chủ động tham gia vào hoạt động học tập. Nguyên nhân của tình trạng này do một số nguyên nhân sau:
– Do vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh quá nghèo nàn. Học sinh
không hiểu được yêu cầu của giáo viên trong giờ học.                       .
– Do đồ dùng dạy học, sách giáo khoa còn thiếu nên ảnh hưởng tới sự tích
cực của học sinh.                                                   .
– Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh tìm tòi tiếp nhận tri thức chưa
để HS chú trọng trong học tập.
– GV chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động của HS.
– GV chưa sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học phù hợp với đặc điểm học sinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1:

Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ tức là phải có năng lực sư phạm.

Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là những đặc điểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả, năng lực sư phạm gồm:

– Năng lực khoa học

– Năng lực hiểu học sinh

– Năng lực ngôn ngữ

– Năng lực tổ chức

– Năng lực phân phối chú ý

– Năng lực trình bày bài giảng

– Óc tưởng tượng sư phạm

Ngoài ra giáo viên muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh thì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp. Hiện nay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung môn học, từng đối tượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong học tập, cụ thể là:

  1. Phương pháp thuyết minh.    9. Phương pháp trò chơi học tập.
  2. Phương pháp đàm thoại. 10. Phương pháp quan sát.
  3. Phương pháp thảo luận. 11. Phương pháp thí nghiệm.
  4. Phương pháp hỏi đáp. 12. Phương pháp nêu vấn đề.
  5. Phương pháp tìm tòi.  13. Phương pháp giải quyết vấn đề.
  6. Phương pháp kể chuyện.  14. Phương pháp khảo sát điều tra.
  7. Phương pháp động não.     15. Phương pháp thực hành luyện tập.
  8. Phương pháp đóng vai.      16. Phương pháp lập luận đề án.

Việc đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) tất yếu phải đổi mới hình thức tổ chức dạy học để tạo một sự tương ứng cần thiết. Sự đa dạng của phương pháp dạy học trong sự phối hợp của chúng, đòi hỏi phải có một số hình thức tổ chức dạy học thích hợp. Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực phát triển học sinh một khía cạnh nào đó. Vì vậy, chúng ta cần phải biết kết hợp nhiều hình thức tổ chức để phát huy thế mạnh của mỗi hình thức tổ chức dạy học. Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định.Không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Các phương pháp dạy học đều thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau. Vì vậy,  phương pháp dạy học mới, đòi hỏi phải có hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn, cụ thể là sử dụng các hình thức dạy học sau:

    Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh. Đồng thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc, hình thức dạy học cá nhân rất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập, ngoài ra còn có một số hình thức khác như: Làm bài tập trong sách, làm các trò chơi, tiến hành các thí nghiệm, sự thể hiện tài năng, các hoạt động độc lập như: Sưu tầm tranh ảnh, thu tập tài liệu, khảo sát thực tế nơi mình ở.

    Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, đồng thời học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và học được công tác tổ chức, điều khiển.

Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:

– Thảo luận về một vấn đề học tập.

– Tìm hiểu, điều tra về một vấn đề thực tế, hay trao đổi chung quanh một đề tài.

– Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.

– Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.

– Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập.

– Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.

Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy học lấy GV làm trung tâm. Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, để xuất hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.

Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho học sinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tai nghe…Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể. Mặt khác, bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau.

Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông, hồ, thác nước…

Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với bài học HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.

Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa tuổi. Đặc biệt là những em ở lứa tuôi tiểu học nói riêng và học sinh lớp 1 nói chung. Trò chơi giúp các em phát triển. Bên cạnh đó sẽ thúc đẩy quá trình nhận thức của các em có hiệu quả. Vì vậy tổ chức trò chơi chú ý những đặc tính: Vui – Khoẻ – An toàn – Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư giản…được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.

Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

+ Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học.

+ Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

Quan trọng hơn vẫn là sau mỗi trò chơi học sinh càng ham thích hoạt động, tự tin ở bản thân, mạnh dạn khẳng định bản thân.Bên cạnh đó, tinh thần đồng đội, đoàn kết, sự quan tâm giữa những thành viên trong lớp

Tóm lại: Đổi mới PPDH cũng như đổi mới hình thức tổ chức dạy học, mục đích chính là nhằm vào đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh trong học tập, tập trung vào các vấn đề sau:

– Dạy học hướng tập trung vào học sinh: Phương pháp này làm cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo và linh hoạt trong học tập.

– Dạy học nêu vấn đề: Là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở học sinh nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới.

– Tăng cường tính tích cực, tư duy của học sinh khi giáo viên trình bày kiến thức bằng lời; phương pháp này sẽ củng cố hứng thú học tập của học sinh, nâng cao tính ham hiểu biết và tò mò trong quá trình thông hiểu các vấn đề nghiên cứu.

– Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học. Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng ẩn sau các hình thức và những biểu hiện bề ngoài, kích thích ham hiểu biết của học sinh.

– Cải tiến công tác tự học: Công tác tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và tiếp thu kiến thức mới, không phải vô cớ mà trong giáo dục học coi trọng sự nghiên cứu của cơ sở lí luận dạy học của việc tổ chức công tác tự học của học sinh.

– Ngoài 4 nội dung trên, thái độ ngôn ngữ truyền đạt, tình cảm quan hệ giữa giáo viên (GV) và HS cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Do đó đòi hỏi người GV phải là người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.

3.2.Tổ chức thực hiện:

3.2.1. Đối với việc học ở nhà:

– Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể.

– Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các em cho phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết hợp với cha mẹ học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.

– Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt,  những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường xuyên giữa gia  đình và giáo viên chủ nhiệm.

– Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau).

3.2.2. Đối với việc học ở lớp:

– Mượn thư viện của trường: Sách, đồ dùng học tập cho những học sinh còn thiếu.

– Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức giáo viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.

– Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị đồ dùng học tập của các em thông qua tổ trưởng, lớp trưởng.

– Có hình thức nhắc nhở, khen thưởng cụ thể, kịp thời và hợp lí. Động viên, khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em lười học và không chú ý trong giờ học.

– Câu hỏi kiểm tra ngắn gọn, sát nội dung bài học và phù hợp với ba đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình để học sinh nắm bài được tốt.

– Thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động và thảo luận theo nhóm, tổ chức trò chơi hoặc sắm vai tuỳ theo môn học, bài học.

– Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và thi đua giữa các tổ, nhóm hoặc giữa các cá nhân…

– Thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực cụ thể từng môn.

3.2.3. Đối với môn toán:

– Khi hướng dẫn HS trả lời bài cũ: GV yêu cầu HS trả lời ngắn gọn, nắm vững kiến thức trọng tâm, trả lời hoặc làm bài tập có liên quan đến kiến thức                                        đã học, hoàn thành bài với phép tính dễ hiểu với bước giải nhanh nhất.                         – Khi hướng dẫn học bài mới ở nhà: GV yêu cầu HS nghiên cứu bài tập ở nhà trước, đọc và tập làm một số bài tập trong sách giáo khoa.

– Khi đến lớp: GV sử dụng nhiều phương pháp như: Trực quan, đàm thoại, thuyết trình, thực hành. Bởi vì học sinh tiểu học, tư duy của các em là trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do đó, GV phải sử dụng triệt để các dồ dùng dạy học (ĐDDH). Bên cạnh đó GV nên dành nhiều thời gian cho HS thực hành nhằm phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo của các em. Sau mỗi dạng bài chúng ta nên cho HS chốt kiến thức bài đó.

– Tạo hứng thú cho các em bằng cách: Tổ chức thi giải toán nhanh; đố vui để học hoặc trò chơi học tập; thi điền đúng điền nhanh kết quả giữa các cá nhân, giữa các tổ, nhóm… Sau đó cho học sinh cả lớp nhận xét, đánh giá, GV bổ sung và tuyên dương, khen thưởng, khuyến khích tinh thần cố gắn học tập để các em lần sau thêm tự tin.

* VD: Toán : Bài phép trừ trong phạm vi 4

Khi hướng dẫn hs thực hiện phép trừ trong phạm vi 4, để giúp hs dễ dàng hình dung ra thế nào là trừ( trừ là lấy đi, mất đi , cho đi) thì gv phải sử dụng hình ảnh trực quan: tranh ảnh hoặc thao tác trên vật thật để hs dễ dàng

hình dung.

Hình 1: Phép trừ trong phạm vi 4

Bài 1: Tính

4 – 1 =                4 – 2 =             3 + 1 =                1 + 2 =

3 – 1 =                3 – 2 =             4 – 3 =                 3 – 1 =

2 – 1 =              4 – 3 =                4 – 1 =                 3 – 2 =

Bài này GV có thể tổ chức cho HS hoạt động nhóm 4, mỗi nhóm thực hiện một cột, nhóm trưởng hướng dẫn các thành viên trong nhóm thực hiện

Hình 2 : Hoạt động nhóm

Cuối bài, để củng cố lại bảng trừ trong phạm vi 4, giáo viên có thể tổ chức cho HS tham gia trò chơi tiếp sức. Tổ chức thành 2 đội, mỗi đội 5 hoặc 4 HS. Sau khi GV ra hiệu lệnh từng thành viên các đội tuyền tay nhau tìm kết quả . Đội nào tìm nhanh, đúng được nhiều kết quả đội đó chiến thắng

Hình 3: Trò chơi học tập” Tiếp sức”

 3.2.4. Đối với môn Tiếng việt:

– Khi hướng dẫn học sinh trả lời bài cũ: Yêu cầu học sinh đọc bài và trả lời câu hỏi ngắn gọn, đúng nội dung và đảm bảo kiến thức trọng tâm, mức độ hoàn thành từ 50% trở lên.

– Khi hướng dẫn HS học bài mới ở nhà, GV yêu cầu:

+ Đối với phân môn Tập đọc: Yêu cầu HS đọc bài trước, tìm hiểu kĩ cách đọc, tập đọc diễn cảm và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa.

+ Đối với phân môn Chính tả: Yêu cầu học sinh đọc trước bài cần viết, tập chép bài đó vào vở ở nhà.

– Khi dạy bài mới: GV sử dụng triệt để các ĐDDH có liên quan đến bài học, sử dụng phương pháp: Trực quan; đàm thoại; giảng giải; hỏi đáp; thực hành; phân tích; tổng hợp; tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai…

Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì  giúp các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng cố kiến thức cho các em.Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu gương, thi đua giữa các cá nhân, giữa các nhóm, tổ… qua các trò chơi học tập…

 

* VD: Học âm /gi/ – Tiếng việt CGD lớp 1

Trong bài học vần này GV có thể sử dụng một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực cho HS như sau:

Việc 0: Tiến hành bình thường

Việc 1: Trong phần tìm tiếng mới bằng cách cho HS thay thanh, thay phụ âm đầu trong mô hình:

 

GV có thể tổ chức trò chơi”Bắn tên” hoặc trò chơi” Xì điện” để HS tìm ra được nhiều tiếng mới vừa tạo không khí lớp học sôi nổi hơn, vừa rèn cho HS kĩ năng điều hành hoạt động học tập trong lớp

Hình thức trò chơi” Bắn tên” như sau:

Gọi 1 HS lên điều hành trò chơi, Khi HS này hô bắn tên, bắn tên cả lớp hô đồng thanh tên gì tên gì, khi đó người điều hành sẽ chỉ tên 1 bạn trong lớp, bạn đó sẽ phải đọc lên tiếng mới mà mình vừa tìm được. Ai không nêu được tiếng mới hoặc nêu sai là người thua cuộc.

Hình 4: Trò chơi” Bắn tên”

* DV: Dạy viết chữ  /gi/:  GV có thể sử dụng phương pháp trực quan, cho HS quan sát chữ gi in thường và gi viết thường trên tranh theo mẫu chữ viết của Bộ Giáo dục, yêu cầu HS nhận xét độ cao độ rộng chữ, so sánh chữ gi in thường và gi viết thường, chữ gi viết thường có nét giống con chữ nào đã học Sau đó GV viết mẫu, hướng dẫn HS cách viết

Như vậy cùng một lúc GV đã rèn cho HS hình thành các kĩ năng (nghe,nhìn, tổng hợp, so sánh) từ đó các em ghi nhớ lâu hơn, cụ thể hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung và lớp 1A tôi đang nghiên cứu nói riêng, với PPDH mới kết hợp với hình thức tổ chức  dạy học mới (Dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngoài trời, tham quan, trò chơi học tập..) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo.Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp . Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng, DH theo hướng đổi mới sẽ huy động được năng lực, nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy rằng người GV không chỉ cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình.

* Kết quả khảo sát học kì I

Đánh giáđịnh kì Điểm 9- 10  Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6  Điểm dưới 5
SL TL SL TL SL TL SL TL
Tiếng việt 13 62% 7 33% 1 5%
Toán 17 81% 4 19%

 

Đánh giáthường xuyên Hoàn thành tốt(T) Hoàn thành(H) Chưa hoàn thành(C)
SL TL SL TL SL TL
Tiếng việt 13 62% 8 38%    
Toán 17 81% 4 19%    
Đạo đức 15 71% 6 29%    
Âm nhạc 10 48% 11 52%    
Mĩ thuật 9 42% 12 58%    
Thủ công 12 58% 9 42%    
Thể dục 14 67% 7 33%    

 

 

 

 

 

PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. KẾT LUẬN

Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là những giờ thực tập giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ ích.

Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước. Đòi hỏi người GV phải nổ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

  1. Về công tác giảng dạy:

Muốn nâng cao hiệu quả và học tập hứng thú trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học, hệ thống câu hỏi:

– Thâm nhập kĩ giáo án, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .

– Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.

– Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiểu quả.

– Sử dụng tốt các câu chuyển ý, chuyển đoạn, tạo ra sự liên kết chặt chẽ, lôgic

của bài dạy.

– Sử dụng tối đa ĐDDH và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng môn học.

– GV phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội.

– GV cần tạo điều kiện để HS tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức.

– Thực hiện tốt chỉ thị  “Hai không” của Bộ GDĐT; bám sát chủ đề năm học để lên kế hoạch tháng, tuần cho phù hợp và khoa học.

Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi ngay từ bây giờ tôi xác định rằng muốn trở thành một người GV thực sự thì trước hết phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, lòng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.

Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, GV cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: ĐDDH, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng đẫn HS cho hiểu nội dung bài một cách dễ dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của HS khá, giỏi.

  1. Về công tác chủ nhiệm:

GV chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức lãnh đạo, điều hành, kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử trong phạm vi lớp mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách của HS. Với vai trò, vị trí như vậy GV chủ nhiệm còn là cầu nối liền giữa nhà trường với đời sống xã hội.

Để trở thành người GVCN giỏi thì ngoài những công việc trên, người GV phải rèn cho mình những năng lực sau:

– Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh.

– Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.

– Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy,nề nếp của trường, lớp.

– Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong và

ngoài nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục học sinh.

Thông thường trẻ ở Tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.

  1. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
  2. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:

– Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.

– Nên  duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.

2.Đối với nhà trường:

– Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.

– Có thêm nhiều sách tham khảo.

– Trường phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên nghỉ học hay bỏ học.

  1. Đối với địa phương, gia đình:

– Gia đình phải chú trọng  quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.

– Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.

– Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Phạm Minh Hạc (1996), Tâm lí học, NXB. Giáo dục
  2. Nguyễn Đức Hoành (2006), Chuyên đề : Một số Phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học
  3. Nguyển Sinh Huy (1997), Giáo dục học, NXB.Giáo dục
  4. Luật giáo dục (NXB Chính trị Quốc Gia-1998)
  5. 5. Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (Bộ GDSX năm 2005)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT. 1

  1. PHẦN MỞ ĐẦU.. 2
  2. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 2
  3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 3

III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.. 3
  2. Đối tượng nghiên cứu: 3
  3. Khách thể nghiên cứu: 3

V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4

  1. PHẦN NỘI DUNG.. 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.. 6

1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?. 6

1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. 7

1.3. Tác dụng của dạy học tích cực. 7

CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 9

2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B.. 9

2.2 Thực trạng của vấn đề. 9

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.. 11

3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1: 11

3.2.Tổ chức thực hiện: 15

3.2.1. Đối với việc học ở nhà: 15

3.2.2. Đối với việc học ở lớp: 15

3.2.3. Đối với môn toán: 16

3.2.4. Đối với môn Tiếng việt: 18

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN.. 21

PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 22

  1. KẾT LUẬN.. 22
  2. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT. 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

GV: Giáo viên

– HS: Học sinh

– PPDH: Phương pháp dạy học

– GD: Giáo dục

GDTH: Giáo dục tiểu học

– DĐH: Đồ dùng dạy học

– GVCN: Giáo viên chủ nhiệm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. PHẦN MỞ ĐẦU
  2. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Với từng nhịp đập của thời gian.Con người, vạn vật không ngừng thay đổi và phát triển để tồn tại. Đặc biệt là con người, muốn vươn lên làm bá chủ vạn vật thì bản thân phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm, tích lũy để phát triển. Cội nguồn của mọi sự phát triển đó chính là sự phát triển của Giáo dục(GD)

Giáo dục chính là nền tảng phát triển của con người, thậm chí là tương lai của một đất nước. Để có một nền tảng giáo dục tốt cần phải có những người thầy giỏi, tận tâm, tận lực với nghề để đưa những chuyến đò tri thức cập bến.

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước. Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để phát triển mọi mặt sau này.

Nền tảng nhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản( nghe, nói, đọc, viết, và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộc đời con người. Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhất như cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng sáng tạo. Như vậy Giáo dục Tiểu học là nền tảng cho sự hình thành và phát triển toàn diện của con người.Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định. Vì thế làm tốt GDTH là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

Xác định được tầm quan trọng của GD như vậy thì GD nước nhà không thể dậm chân tại chổ theo lối dạy học truyền thụ một chiều,không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều, biết rộng mà chỉ cho trẻ cách hành động, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, đây mới là phương châm của nền GD mới.Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết sử dụng và kết hợp một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học, biết lựa chọn các hình thức tổ chức  phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Song để đi đến thành công GD đòi hỏi mọi người phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của mình. Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa mang tính nghệ thuật.. A.KO Men Xi đã viết “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn”. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim” để làm bài báo cáo thu hoạch của mình.

  1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Để đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu đòi hỏi đi đầu trong công cuộc đổi mới đó chính là GD. giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học tập của các em ở trường, chúng tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít. Chính vì vậy báo cáo này bước đầu đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1.

III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp1.

2.Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh lớp 1.

3.Đề xuất biện pháp và xây dựng kế hoạch nhằm phát huy tính tích cực , tự giác của học sinh tại trường.

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
  2. Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

  1. Khách thể nghiên cứu:

Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 21 em học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

  1. Phương pháp quan sát:

Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt… Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.

  1. Phương pháp thực nghiệm:

Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

  1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót và

những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình đạt chất lượng cao.

  1. Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:

Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đề xuất.

  1. Phương pháp đàm thoại:

Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò chuyện với một số phụ huynh học sinh. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết quả tốt nhất.

  1. Phương pháp thống kê, tính toán:

Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước như thế nào?

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữa trong quá trình nghiên cứu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?

Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình. Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, toàn bộ các tác động giáo dục của nhà trường sẻ không có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò. Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng học sinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục.

Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập, người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu để vận dụng vào kết quả học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hoàn thành. Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên phải có trình độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, vốn kinh nghiệm của học sinh. Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý, sự quan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hổ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chổ nhưng không làm thay. Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối xữ thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xữ nhưng luôn có thái độ chân thành. Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hổ trợ, đề cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của học sinh, gây dựng lòng tin ở học sinh và bản thân. Trong môi trường giáo dục, cần có sự thông hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên cơ sở tình cảm đạo đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng. Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng có tác dụng cảm hoá, thuyết phục cao trong công tác giáo dục.

1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Quá trình dạy học gồm hai hoạt động hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thúc đúng đắn.Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứ không phải là người day, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau. Như vậy mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Do đó cần thật sự coi trọng việc hình thành, phát triển những kỷ năng tự học và có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng.

    Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những kiến thức, kỷ năng, kỷ xão, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình. Vì vậy trong khi dạy học cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thụ các kiến thức, kỷ năng…biết biến những cái đó thành kiến thức, kỷ năng của mình. Nói cách khác là biết điều cần học thành cái “ vốn ”, cái “ tài sản ” của bản thân. Học tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các em được tăng cường hơn. Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được khơi dậy, phát triển và coi trọng. Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực

1.3. Tác dụng của dạy học tích cực

Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn. Dạy học phát huy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của người học. Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ vai trò chủ động hơn. Người học không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin. Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội thông tin, để giúp đỡ nhau trong học tập. Dạy học phát huy tính tích cực không chỉ giúp người học lĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và phát triển những kỷ năng học tập của mình, hình thành và phát triển cách học. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nâng cao hiệu quả

và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể làm cho học sinh:

– Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu kiến thức

– Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình.

– Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể

– Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B

Lớp 1B có 21 học sinh, trong đó có 10 em HS nữ, 11 em HS nam đều nằm trong độ tuổi sinh năm 2010

Sau 1 học kì, các cán bộ lớp luôn được thay đổi nhằm phát huy mọi năng lực chinh bản thân mỗi em. Bên cạnh đó sơ đồ vị trí lớp học luôn được thay đổi sau mỗi mỗi kì nhằm hạn chế các tật về mắt.

Các em học tập chăm chỉ, đạo đức tốt, sức khoẻ bình thường, ít em nghỉ học

* Thuận lợi: Đa số các em đều chăm ngoan, biết vâng lờ thầy cô, cha mẹ. Có ý thức học tập và lao động tốt, Biết giữ gìn vệ sinh cá nhâ, vệ sinh trường lớp sạch sẽ. Học sinh cùng độ tuổi sinh năm 2010 nên giáo viên thuận lợi trong việc quản lí và giáo dục học sinh. Đa số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em mình,các em được chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ khi đến lớp. Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, các phòng học đều có điện quạt, phục vụ cho việc dạy và học, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ.

* Khó khăn: Nhiều học sinh ở khá xa điểm trường, đường sá đi lại khó khăn, nhiều sông suối, rừng núi nên ảnh hưởng nhiều đến việc đến trường, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, nhiều học sinh phải nghỉ học. Một số em gia đình có hoàn cảnh khó khăn,con thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, con đông, ăn uống còn thiếu thốn nên không đảm bảo sức khỏe cho việc học tập ngày 2 buổi.Các em học sinh ở lứa tuối nhỏ, còn hiếu động, ham chơi hơn ham học, chưa có ý thức đầy đủ về học tập nên giáo viên rất vất vả, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn để sinh hoạt học tập đúng theo nội qui nhà trường, còn một số ít cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình nên việc truyền thụ kiến thức cho các em còn gặp khó khăn, trình độ học sinh không đồng đều.

2.2 Thực trạng của vấn đề

Hiện nay, phong trào đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa đang  được triển khai rộng khắp. Nội dung dạy học thay đổi kéo theo sự thay đổi về phương pháp dạy học. Bản chất của phương pháp dạy học mới chính là sự tích cực hoá hoạt động người học, tức là phát huy tính tích cực của người học.Tuy nhiên việc phát huy tính tích cực của học sinh còn nhiều vấn đề cần thảo luận, bàn cãi. Hiện nay, học sinh lớp 1 chưa tích cực, tự giác tham gia vào quá trình dạy học. Học sinh rụt rè không chủ động tìm tòi, tiếp nhận tri thức. Học sinh chưa chủ động tham gia vào hoạt động học tập. Nguyên nhân của tình trạng này do một số nguyên nhân sau:
– Do vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh quá nghèo nàn. Học sinh
không hiểu được yêu cầu của giáo viên trong giờ học.                       .
– Do đồ dùng dạy học, sách giáo khoa còn thiếu nên ảnh hưởng tới sự tích
cực của học sinh.                                                   .
– Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh tìm tòi tiếp nhận tri thức chưa
để HS chú trọng trong học tập.
– GV chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động của HS.
– GV chưa sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học phù hợp với đặc điểm học sinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1:

Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ tức là phải có năng lực sư phạm.

Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là những đặc điểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả, năng lực sư phạm gồm:

– Năng lực khoa học

– Năng lực hiểu học sinh

– Năng lực ngôn ngữ

– Năng lực tổ chức

– Năng lực phân phối chú ý

– Năng lực trình bày bài giảng

– Óc tưởng tượng sư phạm

Ngoài ra giáo viên muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh thì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp. Hiện nay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung môn học, từng đối tượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong học tập, cụ thể là:

  1. Phương pháp thuyết minh.    9. Phương pháp trò chơi học tập.
  2. Phương pháp đàm thoại. 10. Phương pháp quan sát.
  3. Phương pháp thảo luận. 11. Phương pháp thí nghiệm.
  4. Phương pháp hỏi đáp. 12. Phương pháp nêu vấn đề.
  5. Phương pháp tìm tòi.  13. Phương pháp giải quyết vấn đề.
  6. Phương pháp kể chuyện.  14. Phương pháp khảo sát điều tra.
  7. Phương pháp động não.     15. Phương pháp thực hành luyện tập.
  8. Phương pháp đóng vai.      16. Phương pháp lập luận đề án.

Việc đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) tất yếu phải đổi mới hình thức tổ chức dạy học để tạo một sự tương ứng cần thiết. Sự đa dạng của phương pháp dạy học trong sự phối hợp của chúng, đòi hỏi phải có một số hình thức tổ chức dạy học thích hợp. Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực phát triển học sinh một khía cạnh nào đó. Vì vậy, chúng ta cần phải biết kết hợp nhiều hình thức tổ chức để phát huy thế mạnh của mỗi hình thức tổ chức dạy học. Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định.Không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Các phương pháp dạy học đều thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau. Vì vậy,  phương pháp dạy học mới, đòi hỏi phải có hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn, cụ thể là sử dụng các hình thức dạy học sau:

    Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh. Đồng thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc, hình thức dạy học cá nhân rất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập, ngoài ra còn có một số hình thức khác như: Làm bài tập trong sách, làm các trò chơi, tiến hành các thí nghiệm, sự thể hiện tài năng, các hoạt động độc lập như: Sưu tầm tranh ảnh, thu tập tài liệu, khảo sát thực tế nơi mình ở.

    Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, đồng thời học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và học được công tác tổ chức, điều khiển.

Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:

– Thảo luận về một vấn đề học tập.

– Tìm hiểu, điều tra về một vấn đề thực tế, hay trao đổi chung quanh một đề tài.

– Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.

– Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.

– Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập.

– Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.

Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy học lấy GV làm trung tâm. Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, để xuất hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.

Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho học sinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tai nghe…Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể. Mặt khác, bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau.

Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông, hồ, thác nước…

Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với bài học HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.

Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa tuổi. Đặc biệt là những em ở lứa tuôi tiểu học nói riêng và học sinh lớp 1 nói chung. Trò chơi giúp các em phát triển. Bên cạnh đó sẽ thúc đẩy quá trình nhận thức của các em có hiệu quả. Vì vậy tổ chức trò chơi chú ý những đặc tính: Vui – Khoẻ – An toàn – Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư giản…được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.

Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

+ Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học.

+ Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

Quan trọng hơn vẫn là sau mỗi trò chơi học sinh càng ham thích hoạt động, tự tin ở bản thân, mạnh dạn khẳng định bản thân.Bên cạnh đó, tinh thần đồng đội, đoàn kết, sự quan tâm giữa những thành viên trong lớp

Tóm lại: Đổi mới PPDH cũng như đổi mới hình thức tổ chức dạy học, mục đích chính là nhằm vào đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh trong học tập, tập trung vào các vấn đề sau:

– Dạy học hướng tập trung vào học sinh: Phương pháp này làm cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo và linh hoạt trong học tập.

– Dạy học nêu vấn đề: Là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở học sinh nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới.

– Tăng cường tính tích cực, tư duy của học sinh khi giáo viên trình bày kiến thức bằng lời; phương pháp này sẽ củng cố hứng thú học tập của học sinh, nâng cao tính ham hiểu biết và tò mò trong quá trình thông hiểu các vấn đề nghiên cứu.

– Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học. Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng ẩn sau các hình thức và những biểu hiện bề ngoài, kích thích ham hiểu biết của học sinh.

– Cải tiến công tác tự học: Công tác tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và tiếp thu kiến thức mới, không phải vô cớ mà trong giáo dục học coi trọng sự nghiên cứu của cơ sở lí luận dạy học của việc tổ chức công tác tự học của học sinh.

– Ngoài 4 nội dung trên, thái độ ngôn ngữ truyền đạt, tình cảm quan hệ giữa giáo viên (GV) và HS cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Do đó đòi hỏi người GV phải là người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.

3.2.Tổ chức thực hiện:

3.2.1. Đối với việc học ở nhà:

– Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể.

– Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các em cho phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết hợp với cha mẹ học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.

– Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt,  những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường xuyên giữa gia  đình và giáo viên chủ nhiệm.

– Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau).

3.2.2. Đối với việc học ở lớp:

– Mượn thư viện của trường: Sách, đồ dùng học tập cho những học sinh còn thiếu.

– Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức giáo viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.

– Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị đồ dùng học tập của các em thông qua tổ trưởng, lớp trưởng.

– Có hình thức nhắc nhở, khen thưởng cụ thể, kịp thời và hợp lí. Động viên, khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em lười học và không chú ý trong giờ học.

– Câu hỏi kiểm tra ngắn gọn, sát nội dung bài học và phù hợp với ba đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình để học sinh nắm bài được tốt.

– Thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động và thảo luận theo nhóm, tổ chức trò chơi hoặc sắm vai tuỳ theo môn học, bài học.

– Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và thi đua giữa các tổ, nhóm hoặc giữa các cá nhân…

– Thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực cụ thể từng môn.

3.2.3. Đối với môn toán:

– Khi hướng dẫn HS trả lời bài cũ: GV yêu cầu HS trả lời ngắn gọn, nắm vững kiến thức trọng tâm, trả lời hoặc làm bài tập có liên quan đến kiến thức                                        đã học, hoàn thành bài với phép tính dễ hiểu với bước giải nhanh nhất.                         – Khi hướng dẫn học bài mới ở nhà: GV yêu cầu HS nghiên cứu bài tập ở nhà trước, đọc và tập làm một số bài tập trong sách giáo khoa.

– Khi đến lớp: GV sử dụng nhiều phương pháp như: Trực quan, đàm thoại, thuyết trình, thực hành. Bởi vì học sinh tiểu học, tư duy của các em là trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do đó, GV phải sử dụng triệt để các dồ dùng dạy học (ĐDDH). Bên cạnh đó GV nên dành nhiều thời gian cho HS thực hành nhằm phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo của các em. Sau mỗi dạng bài chúng ta nên cho HS chốt kiến thức bài đó.

– Tạo hứng thú cho các em bằng cách: Tổ chức thi giải toán nhanh; đố vui để học hoặc trò chơi học tập; thi điền đúng điền nhanh kết quả giữa các cá nhân, giữa các tổ, nhóm… Sau đó cho học sinh cả lớp nhận xét, đánh giá, GV bổ sung và tuyên dương, khen thưởng, khuyến khích tinh thần cố gắn học tập để các em lần sau thêm tự tin.

* VD: Toán : Bài phép trừ trong phạm vi 4

Khi hướng dẫn hs thực hiện phép trừ trong phạm vi 4, để giúp hs dễ dàng hình dung ra thế nào là trừ( trừ là lấy đi, mất đi , cho đi) thì gv phải sử dụng hình ảnh trực quan: tranh ảnh hoặc thao tác trên vật thật để hs dễ dàng

hình dung.

Hình 1: Phép trừ trong phạm vi 4

Bài 1: Tính

4 – 1 =                4 – 2 =             3 + 1 =                1 + 2 =

3 – 1 =                3 – 2 =             4 – 3 =                 3 – 1 =

2 – 1 =              4 – 3 =                4 – 1 =                 3 – 2 =

Bài này GV có thể tổ chức cho HS hoạt động nhóm 4, mỗi nhóm thực hiện một cột, nhóm trưởng hướng dẫn các thành viên trong nhóm thực hiện

Hình 2 : Hoạt động nhóm

Cuối bài, để củng cố lại bảng trừ trong phạm vi 4, giáo viên có thể tổ chức cho HS tham gia trò chơi tiếp sức. Tổ chức thành 2 đội, mỗi đội 5 hoặc 4 HS. Sau khi GV ra hiệu lệnh từng thành viên các đội tuyền tay nhau tìm kết quả . Đội nào tìm nhanh, đúng được nhiều kết quả đội đó chiến thắng

Hình 3: Trò chơi học tập” Tiếp sức”

 3.2.4. Đối với môn Tiếng việt:

– Khi hướng dẫn học sinh trả lời bài cũ: Yêu cầu học sinh đọc bài và trả lời câu hỏi ngắn gọn, đúng nội dung và đảm bảo kiến thức trọng tâm, mức độ hoàn thành từ 50% trở lên.

– Khi hướng dẫn HS học bài mới ở nhà, GV yêu cầu:

+ Đối với phân môn Tập đọc: Yêu cầu HS đọc bài trước, tìm hiểu kĩ cách đọc, tập đọc diễn cảm và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa.

+ Đối với phân môn Chính tả: Yêu cầu học sinh đọc trước bài cần viết, tập chép bài đó vào vở ở nhà.

– Khi dạy bài mới: GV sử dụng triệt để các ĐDDH có liên quan đến bài học, sử dụng phương pháp: Trực quan; đàm thoại; giảng giải; hỏi đáp; thực hành; phân tích; tổng hợp; tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai…

Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì  giúp các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng cố kiến thức cho các em.Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu gương, thi đua giữa các cá nhân, giữa các nhóm, tổ… qua các trò chơi học tập…

 

* VD: Học âm /gi/ – Tiếng việt CGD lớp 1

Trong bài học vần này GV có thể sử dụng một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực cho HS như sau:

Việc 0: Tiến hành bình thường

Việc 1: Trong phần tìm tiếng mới bằng cách cho HS thay thanh, thay phụ âm đầu trong mô hình:

 

GV có thể tổ chức trò chơi”Bắn tên” hoặc trò chơi” Xì điện” để HS tìm ra được nhiều tiếng mới vừa tạo không khí lớp học sôi nổi hơn, vừa rèn cho HS kĩ năng điều hành hoạt động học tập trong lớp

Hình thức trò chơi” Bắn tên” như sau:

Gọi 1 HS lên điều hành trò chơi, Khi HS này hô bắn tên, bắn tên cả lớp hô đồng thanh tên gì tên gì, khi đó người điều hành sẽ chỉ tên 1 bạn trong lớp, bạn đó sẽ phải đọc lên tiếng mới mà mình vừa tìm được. Ai không nêu được tiếng mới hoặc nêu sai là người thua cuộc.

Hình 4: Trò chơi” Bắn tên”

* DV: Dạy viết chữ  /gi/:  GV có thể sử dụng phương pháp trực quan, cho HS quan sát chữ gi in thường và gi viết thường trên tranh theo mẫu chữ viết của Bộ Giáo dục, yêu cầu HS nhận xét độ cao độ rộng chữ, so sánh chữ gi in thường và gi viết thường, chữ gi viết thường có nét giống con chữ nào đã học Sau đó GV viết mẫu, hướng dẫn HS cách viết

Như vậy cùng một lúc GV đã rèn cho HS hình thành các kĩ năng (nghe,nhìn, tổng hợp, so sánh) từ đó các em ghi nhớ lâu hơn, cụ thể hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung và lớp 1A tôi đang nghiên cứu nói riêng, với PPDH mới kết hợp với hình thức tổ chức  dạy học mới (Dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngoài trời, tham quan, trò chơi học tập..) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo.Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp . Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng, DH theo hướng đổi mới sẽ huy động được năng lực, nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy rằng người GV không chỉ cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình.

* Kết quả khảo sát học kì I

Đánh giáđịnh kì Điểm 9- 10  Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6  Điểm dưới 5
SL TL SL TL SL TL SL TL
Tiếng việt 13 62% 7 33% 1 5%
Toán 17 81% 4 19%

 

Đánh giáthường xuyên Hoàn thành tốt(T) Hoàn thành(H) Chưa hoàn thành(C)
SL TL SL TL SL TL
Tiếng việt 13 62% 8 38%    
Toán 17 81% 4 19%    
Đạo đức 15 71% 6 29%    
Âm nhạc 10 48% 11 52%    
Mĩ thuật 9 42% 12 58%    
Thủ công 12 58% 9 42%    
Thể dục 14 67% 7 33%    

 

 

 

 

 

PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. KẾT LUẬN

Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là những giờ thực tập giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ ích.

Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước. Đòi hỏi người GV phải nổ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

  1. Về công tác giảng dạy:

Muốn nâng cao hiệu quả và học tập hứng thú trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học, hệ thống câu hỏi:

– Thâm nhập kĩ giáo án, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .

– Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.

– Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiểu quả.

– Sử dụng tốt các câu chuyển ý, chuyển đoạn, tạo ra sự liên kết chặt chẽ, lôgic

của bài dạy.

– Sử dụng tối đa ĐDDH và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng môn học.

– GV phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội.

– GV cần tạo điều kiện để HS tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức.

– Thực hiện tốt chỉ thị  “Hai không” của Bộ GDĐT; bám sát chủ đề năm học để lên kế hoạch tháng, tuần cho phù hợp và khoa học.

Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi ngay từ bây giờ tôi xác định rằng muốn trở thành một người GV thực sự thì trước hết phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, lòng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.

Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, GV cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: ĐDDH, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng đẫn HS cho hiểu nội dung bài một cách dễ dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của HS khá, giỏi.

  1. Về công tác chủ nhiệm:

GV chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức lãnh đạo, điều hành, kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử trong phạm vi lớp mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách của HS. Với vai trò, vị trí như vậy GV chủ nhiệm còn là cầu nối liền giữa nhà trường với đời sống xã hội.

Để trở thành người GVCN giỏi thì ngoài những công việc trên, người GV phải rèn cho mình những năng lực sau:

– Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh.

– Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.

– Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy,nề nếp của trường, lớp.

– Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong và

ngoài nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục học sinh.

Thông thường trẻ ở Tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.

  1. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
  2. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:

– Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.

– Nên  duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.

2.Đối với nhà trường:

– Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.

– Có thêm nhiều sách tham khảo.

– Trường phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên nghỉ học hay bỏ học.

  1. Đối với địa phương, gia đình:

– Gia đình phải chú trọng  quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.

– Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.

– Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Phạm Minh Hạc (1996), Tâm lí học, NXB. Giáo dục
  2. Nguyễn Đức Hoành (2006), Chuyên đề : Một số Phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học
  3. Nguyển Sinh Huy (1997), Giáo dục học, NXB.Giáo dục
  4. Luật giáo dục (NXB Chính trị Quốc Gia-1998)
  5. 5. Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (Bộ GDSX năm 2005)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT. 1

  1. PHẦN MỞ ĐẦU.. 2
  2. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 2
  3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 3

III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.. 3
  2. Đối tượng nghiên cứu: 3
  3. Khách thể nghiên cứu: 3

V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4

  1. PHẦN NỘI DUNG.. 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.. 6

1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?. 6

1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. 7

1.3. Tác dụng của dạy học tích cực. 7

CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 9

2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B.. 9

2.2 Thực trạng của vấn đề. 9

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.. 11

3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1: 11

3.2.Tổ chức thực hiện: 15

3.2.1. Đối với việc học ở nhà: 15

3.2.2. Đối với việc học ở lớp: 15

3.2.3. Đối với môn toán: 16

3.2.4. Đối với môn Tiếng việt: 18

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN.. 21

PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 22

  1. KẾT LUẬN.. 22
  2. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT. 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT

GV: Giáo viên

– HS: Học sinh

– PPDH: Phương pháp dạy học

– GD: Giáo dục

GDTH: Giáo dục tiểu học

– DĐH: Đồ dùng dạy học

– GVCN: Giáo viên chủ nhiệm

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. PHẦN MỞ ĐẦU
  2. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Với từng nhịp đập của thời gian.Con người, vạn vật không ngừng thay đổi và phát triển để tồn tại. Đặc biệt là con người, muốn vươn lên làm bá chủ vạn vật thì bản thân phải không ngừng học hỏi, tìm kiếm, tích lũy để phát triển. Cội nguồn của mọi sự phát triển đó chính là sự phát triển của Giáo dục(GD)

Giáo dục chính là nền tảng phát triển của con người, thậm chí là tương lai của một đất nước. Để có một nền tảng giáo dục tốt cần phải có những người thầy giỏi, tận tâm, tận lực với nghề để đưa những chuyến đò tri thức cập bến.

Giáo dục là nền tảng của xã hội, là cơ sở tiền đề để quyết định sự phồn vinh của đất nước. Giáo dục (GD) cung cấp những hiểu biết về kho tàng tri thức của nhân loại cho biết bao thế hệ, giúp cho các em những hiểu biết cơ bản cần thiết về khoa học và cuộc sống. Mặt khác giáo dục còn góp phần hình thành và bồi dưỡng nhân cách tốt đẹp cho học sinh (HS), đặc biệt là Giáo dục Tiểu học, đây là bậc học mang tính chất nền móng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để phát triển mọi mặt sau này.

Nền tảng nhân cách, kĩ năng sống, kĩ năng học tập cơ bản( nghe, nói, đọc, viết, và tính toán) của học sinh được hình thành ở Tiểu học và được sử dụng trong suốt cuộc đời con người. Học sinh Tiểu học được dạy từ những điều nhỏ nhất như cách cầm bút, tư thế ngồi viết, cách thưa gửi, đi đứng, ăn mặc cho đến các kĩ năng tự phục vụ, kĩ năng giao tiếp, các kĩ năng học tập và khả năng sáng tạo. Như vậy Giáo dục Tiểu học là nền tảng cho sự hình thành và phát triển toàn diện của con người.Thành quả của giáo dục tiểu học có giá trị lâu dài, có tính quyết định. Vì thế làm tốt GDTH là đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước

Xác định được tầm quan trọng của GD như vậy thì GD nước nhà không thể dậm chân tại chổ theo lối dạy học truyền thụ một chiều,không phải dạy cho trẻ hiểu nhiều, biết rộng mà chỉ cho trẻ cách hành động, tự tìm tòi chiếm lĩnh tri thức, đây mới là phương châm của nền GD mới.Vậy để GD có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết sử dụng và kết hợp một cách có hiệu quả các phương pháp dạy học, biết lựa chọn các hình thức tổ chức  phù hợp với mục tiêu và nội dung của bài học và đặc điểm tâm sinh lý của học sinh. Song để đi đến thành công GD đòi hỏi mọi người phải không ngừng nổ lực phấn đấu, sáng tạo, tích cực đổi mới phương pháp dạy học, đầu tư thích đáng vào công việc của mình. Đây là một công việc vừa mang tính GD vừa mang tính nghệ thuật.. A.KO Men Xi đã viết “GD có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách… hãy tìm ra phương pháp cho gíáo viên dạy ít hơn, học sinh hiểu nhiều hơn”. Đó là lý do tôi chọn đề tài “Một số biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1 trường Tiểu học Quảng Kim” để làm bài báo cáo thu hoạch của mình.

  1. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Để đất nước vươn mình, sánh vai với các cường quốc năm châu đòi hỏi đi đầu trong công cuộc đổi mới đó chính là GD. giáo dục phải đổi mới phương pháp dạy học để tạo ra những thế hệ con người nhận thức sâu sắc, biết tự giác chủ động sáng tạo trong công việc. Nhìn lại việc học tập của các em ở trường, chúng tôi thấy nhận thức của các em còn nhiều hạn chế, ý thức tự học, tự rèn luyện rất ít. Chính vì vậy báo cáo này bước đầu đưa ra những biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp 1.

III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

1.Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của quá trình phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp1.

2.Tìm hiểu thực trạng học tập của học sinh lớp 1.

3.Đề xuất biện pháp và xây dựng kế hoạch nhằm phát huy tính tích cực , tự giác của học sinh tại trường.

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
  2. Đối tượng nghiên cứu:

Các biện pháp để phát huy tính tích cực, tự giác học tập của học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

  1. Khách thể nghiên cứu:

Vì thời gian nghiên cứu có hạn nên tôi chỉ tiến hành nghiên cứu 21 em học sinh lớp 1 tại trường chúng tôi.

V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

  1. Phương pháp quan sát:

Đây là phương pháp giúp ta quan sát thái độ, hành vi của học sinh, phát hiện ra những hành vi, cử chỉ của học sinh trong học tập, sinh hoạt… Để phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh.

  1. Phương pháp thực nghiệm:

Khi tiến hành nghiên cứu tạo ra một số tình huống, những hoàn cảnh, những điều kiện rất gần gũi của cuộc sống để đưa đối tượng vào vấn đề, từ đó nghiên cứu thu lại được những tư liệu cần thiết. Đây là một phương pháp hết sức quan trọng và rất cần thiết trong nghiên cứu khoa học.

  1. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động:

Qua phương pháp này làm cho người giáo viên thấy được những thiếu sót và

những chỗ hổng của học sinh để có phương pháp làm cho hoạt động của mình đạt chất lượng cao.

  1. Phương pháp tổng hợp kinh nghiệm:

Nhờ phương pháp này mà người nghiên cứu có thể tổng hợp, đúc rút kinh nghiệm của giáo viên chỉ đạo về việc phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh qua các mặt hoạt động học tập, lao động, sinh hoạt tập thể và hoạt động ngoại khoá, từ đó rút ra bài học và nêu được những biện pháp khắc phục và đề xuất.

  1. Phương pháp đàm thoại:

Với học sinh tiểu học, phương pháp đàm thoại trò chuyện là một hình thức tốt nhất để giáo viên có thể gần gũi các em, đồng thời thăm hỏi trò chuyện với một số phụ huynh học sinh. Qua đó chúng ta có thể biết tâm sự, tình cảm, nguyện vọng của các em về việc học ở lớp cũng như việc học ở nhà của các em như thế nào? Để từ đó, giáo viên có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học thích hợp nhằm làm cho người dạy đạt kết quả tốt nhất.

  1. Phương pháp thống kê, tính toán:

Phương pháp thống kê tính toán, qua những thông tin tài liệu thu thập được, tôi đã vận dụng phương pháp này để thống kê lại tình hình và tính toán các số liệu cần thiết để biết được chất lượng học tập của học sinh thời gian sau so với thời gian trước như thế nào?

  1. Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

Ngoài các phương pháp trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác nữa trong quá trình nghiên cứu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  1. PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?

Trong quá trình giáo dục học sinh với tư cách là đối tượng của hoạt động giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện nhân cách của mình. Như vậy, vai trò chủ đạo của giáo viên, toàn bộ các tác động giáo dục của nhà trường sẻ không có hiệu quả, thực chất nếu không tạo ra được sự kết hợp hài hoà giữa hoạt động của thầy và hoạt động tích cực sáng tạo của trò. Từ trước đến nay, nhiều công trình nghiên cứu giáo dục cho thấy kết quả giáo dục phụ thuộc rất nhiều vào sự hoạt động hưởng ứng tích cực, chủ động sáng tạo của từng học sinh cũng như hoạt động tích cực, độc lập của tập thể học sinh với tư cách vừa là đối tượng vừa là chủ thể của việc giáo dục.

Như vậy, tích cực, tự giác, độc lập có nghĩa là trong quá trình học tập, người học sinh tự đặt ra mục đích học tập, tích cực tìm ra các biện pháp tối ưu để vận dụng vào kết quả học tập, không chỉ thế, người học sinh phải luôn hứng thú, say mê học tập, xem việc học là một nhiệm vụ của mình phải hoàn thành. Do đó, khi áp dụng vào thực tế giáo dục đòi hỏi ở người giáo viên phải có trình độ sư phạm vững, hiểu sâu sắc đối tượng để chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp nhằm phát huy có hiệu quả mọi tiềm năng, vốn kinh nghiệm của học sinh. Từ những yêu cầu chung, khơi gợi sự chú ý, sự quan tâm tìm cách cụ thể hoá, tự xác định các yêu cầu các biện pháp phù hợp với từng đối tượng học sinh.

Về thái độ, người giáo viên nên có thái độ khoan dung, biết lắng nghe và tôn trọng, biết cách hổ trợ, giúp đỡ các em đúng lúc, đúng chổ nhưng không làm thay. Trong những tình huống nhất định, đối với đối tượng cá biệt cần có sự đối xữ thích hợp, có thể linh hoạt trong cách ứng xữ nhưng luôn có thái độ chân thành. Ngoài ra người giáo viên biết tạo ra dư luận đúng đắn, kịp thời hổ trợ, đề cao, khuyến khích cái hay, cái mới, cái tốt trong mọi hoạt động của học sinh, gây dựng lòng tin ở học sinh và bản thân. Trong môi trường giáo dục, cần có sự thông hiểu, lòng vị tha, sự quan tâm giữa các thành viên, trên cơ sở tình cảm đạo đức trong sáng, mang tính nhân đạo cao thượng. Đây là yếu tố tiềm ẩn nhưng có tác dụng cảm hoá, thuyết phục cao trong công tác giáo dục.

1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh

Quá trình dạy học gồm hai hoạt động hữu cơ: Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này đều được tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục. Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực, chủ động, tự giác với một động cơ nhận thúc đúng đắn.Kết quả học tập của học sinh là thước đo kết quả hoạt động của giáo viên và học sinh. Trong quá trình dạy học, điểm tập trung là bản thân người học, chứ không phải là người day, tức là hoạt động dạy học cần dựa trên nhu cầu, hứng thú, thói quen và năng lực của người học ở các lứa tuổi khác nhau. Như vậy mục đích của dạy học ở đây là trẻ em phát triển trên nhiều mặt, chứ không chỉ nhằm lĩnh hội kiến thức. Do đó cần thật sự coi trọng việc hình thành, phát triển những kỷ năng tự học và có khả năng đáp ứng yêu cầu của dòng tri thức không ngừng gia tăng.

    Chương trình và kế hoạch dạy học phải căn cứ vào nhu cầu, hứng thú, năng lực của học sinh, giúp các em có được thái độ đúng và nắm được những kiến thức, kỷ năng, kỷ xão, phát huy đầy đủ nhất năng lực của mình. Vì vậy trong khi dạy học cần tạo điều kiện cho học sinh chủ động tiếp thụ các kiến thức, kỷ năng…biết biến những cái đó thành kiến thức, kỷ năng của mình. Nói cách khác là biết điều cần học thành cái “ vốn ”, cái “ tài sản ” của bản thân. Học tập như vậy khiến sự hiểu biết của các em được vững chắc hơn, hứng thú của các em được tăng cường hơn. Khi dạy học hoạt động tư duy của các em được khơi dậy, phát triển và coi trọng. Đó chính là dạy học phát huy tính tích cực

1.3. Tác dụng của dạy học tích cực

Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh có tác dụng rất lớn. Dạy học phát huy tính tích cực tạo điều kiện tối đa để phát huy vai trò chủ thể của người học. Trong dạy học phát huy tính tích cực của học sinh, học sinh giữ vai trò chủ động hơn. Người học không là người tiếp nhận thông tin một cách bị động, không chủ yếu tiếp nhận thông tin từ giáo viên mà chủ động lĩnh hội thông tin, suy nghĩ, tìm tòi, khám phá các khía cạnh khác nhau của thông tin, sắp xếp lại thông tin. Người học hợp tác với các bạn cùng học để lĩnh hội thông tin, để giúp đỡ nhau trong học tập. Dạy học phát huy tính tích cực không chỉ giúp người học lĩnh hội nội dung kiến thức mà còn hình thành và phát triển những kỷ năng học tập của mình, hình thành và phát triển cách học. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh nâng cao hiệu quả

và chất lượng dạy học, đảm bảo tính toàn diện, cụ thể làm cho học sinh:

– Nắm vững, hiểu sâu và hiểu sâu kiến thức

– Luôn luôn củng cố và phát triển cách học của mình.

– Phát triển những phẩm chất đạo đức cá nhân như tính kiên trì, lòng nhẫn nại, tinh thần trách nhiệm và ý thức tập thể

– Phát triển được tinh thần hợp tác và tương trợ lẫn nhau.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN

2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B

Lớp 1B có 21 học sinh, trong đó có 10 em HS nữ, 11 em HS nam đều nằm trong độ tuổi sinh năm 2010

Sau 1 học kì, các cán bộ lớp luôn được thay đổi nhằm phát huy mọi năng lực chinh bản thân mỗi em. Bên cạnh đó sơ đồ vị trí lớp học luôn được thay đổi sau mỗi mỗi kì nhằm hạn chế các tật về mắt.

Các em học tập chăm chỉ, đạo đức tốt, sức khoẻ bình thường, ít em nghỉ học

* Thuận lợi: Đa số các em đều chăm ngoan, biết vâng lờ thầy cô, cha mẹ. Có ý thức học tập và lao động tốt, Biết giữ gìn vệ sinh cá nhâ, vệ sinh trường lớp sạch sẽ. Học sinh cùng độ tuổi sinh năm 2010 nên giáo viên thuận lợi trong việc quản lí và giáo dục học sinh. Đa số phụ huynh học sinh rất quan tâm đến việc học của con em mình,các em được chuẩn bị sách vở, đồ dùng học tập đầy đủ khi đến lớp. Trường lớp sạch sẽ, thoáng mát, các phòng học đều có điện quạt, phục vụ cho việc dạy và học, trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ.

* Khó khăn: Nhiều học sinh ở khá xa điểm trường, đường sá đi lại khó khăn, nhiều sông suối, rừng núi nên ảnh hưởng nhiều đến việc đến trường, đặc biệt là vào mùa mưa lũ, nhiều học sinh phải nghỉ học. Một số em gia đình có hoàn cảnh khó khăn,con thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo, con đông, ăn uống còn thiếu thốn nên không đảm bảo sức khỏe cho việc học tập ngày 2 buổi.Các em học sinh ở lứa tuối nhỏ, còn hiếu động, ham chơi hơn ham học, chưa có ý thức đầy đủ về học tập nên giáo viên rất vất vả, thường xuyên nhắc nhở, uốn nắn để sinh hoạt học tập đúng theo nội qui nhà trường, còn một số ít cha mẹ học sinh chưa thật sự quan tâm đến việc học của con em mình nên việc truyền thụ kiến thức cho các em còn gặp khó khăn, trình độ học sinh không đồng đều.

2.2 Thực trạng của vấn đề

Hiện nay, phong trào đổi mới nội dung, chương trình sách giáo khoa đang  được triển khai rộng khắp. Nội dung dạy học thay đổi kéo theo sự thay đổi về phương pháp dạy học. Bản chất của phương pháp dạy học mới chính là sự tích cực hoá hoạt động người học, tức là phát huy tính tích cực của người học.Tuy nhiên việc phát huy tính tích cực của học sinh còn nhiều vấn đề cần thảo luận, bàn cãi. Hiện nay, học sinh lớp 1 chưa tích cực, tự giác tham gia vào quá trình dạy học. Học sinh rụt rè không chủ động tìm tòi, tiếp nhận tri thức. Học sinh chưa chủ động tham gia vào hoạt động học tập. Nguyên nhân của tình trạng này do một số nguyên nhân sau:
– Do vốn ngôn ngữ Tiếng Việt của học sinh quá nghèo nàn. Học sinh
không hiểu được yêu cầu của giáo viên trong giờ học.                       .
– Do đồ dùng dạy học, sách giáo khoa còn thiếu nên ảnh hưởng tới sự tích
cực của học sinh.                                                   .
– Giáo viên chưa tạo điều kiện để học sinh tìm tòi tiếp nhận tri thức chưa
để HS chú trọng trong học tập.
– GV chưa coi trọng việc tổ chức các hoạt động của HS.
– GV chưa sử dụng phối hợp các phương pháp và hình thức tổ chức dạy
học phù hợp với đặc điểm học sinh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH

3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1:

Để kích thích tính tự giác, tích cực, độc lập của học sinh và tạo hứng thú học tập cho học sinh thì đòi hỏi ở người giáo viên rất nhiều điều. Trước hết đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề vững vàng, phải biết yêu nghề, mến trẻ tức là phải có năng lực sư phạm.

Vậy thế nào được gọi là năng lực sư phạm? Năng lực sư phạm là những đặc điểm tâm lí mà nó giúp cho giáo viên hoạt động có hiệu quả, năng lực sư phạm gồm:

– Năng lực khoa học

– Năng lực hiểu học sinh

– Năng lực ngôn ngữ

– Năng lực tổ chức

– Năng lực phân phối chú ý

– Năng lực trình bày bài giảng

– Óc tưởng tượng sư phạm

Ngoài ra giáo viên muốn phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh thì cần phải biết lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức thích hợp. Hiện nay, để tiến kịp với thời đại thì cần thay đổi một số phương pháp để phát huy tính tích cực của học sinh để phù hợp với từng nội dung môn học, từng đối tượng và trong quá trình dạy học tôi đã sử dụng linh hoạt các phương pháp sau để phát huy tính tích cực, tự giác, độc lập của học sinh trong học tập, cụ thể là:

  1. Phương pháp thuyết minh.    9. Phương pháp trò chơi học tập.
  2. Phương pháp đàm thoại. 10. Phương pháp quan sát.
  3. Phương pháp thảo luận. 11. Phương pháp thí nghiệm.
  4. Phương pháp hỏi đáp. 12. Phương pháp nêu vấn đề.
  5. Phương pháp tìm tòi.  13. Phương pháp giải quyết vấn đề.
  6. Phương pháp kể chuyện.  14. Phương pháp khảo sát điều tra.
  7. Phương pháp động não.     15. Phương pháp thực hành luyện tập.
  8. Phương pháp đóng vai.      16. Phương pháp lập luận đề án.

Việc đổi mới phương pháp dạy học ( PPDH) tất yếu phải đổi mới hình thức tổ chức dạy học để tạo một sự tương ứng cần thiết. Sự đa dạng của phương pháp dạy học trong sự phối hợp của chúng, đòi hỏi phải có một số hình thức tổ chức dạy học thích hợp. Mỗi hình thức tổ chức dạy học đều có tác dụng tích cực phát triển học sinh một khía cạnh nào đó. Vì vậy, chúng ta cần phải biết kết hợp nhiều hình thức tổ chức để phát huy thế mạnh của mỗi hình thức tổ chức dạy học. Mỗi phương pháp dạy học đều có những ưu điểm và nhược điểm nhất định.Không có phương pháp dạy học nào là vạn năng. Các phương pháp dạy học đều thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau. Vì vậy,  phương pháp dạy học mới, đòi hỏi phải có hình thức tổ chức dạy học tạo cơ hội cho học sinh suy nghĩ làm việc, trao đổi thảo luận với nhau nhiều hơn, cụ thể là sử dụng các hình thức dạy học sau:

    Dạy học cá nhân: Là chú ý phát triển năng lực riêng của từng học sinh. Đồng thời rèn cho các em có thói quen tự học, tự làm việc, hình thức dạy học cá nhân rất đa dạng, có thể làm việc với phiếu học tập, ngoài ra còn có một số hình thức khác như: Làm bài tập trong sách, làm các trò chơi, tiến hành các thí nghiệm, sự thể hiện tài năng, các hoạt động độc lập như: Sưu tầm tranh ảnh, thu tập tài liệu, khảo sát thực tế nơi mình ở.

    Dạy học theo nhóm: Tác dụng của việc dạy học theo nhóm là đề cao vai trò tự hợp tác trách nhiệm cá nhân với tập thể. Đồng thời dạy học theo nhóm rèn luyện cho học sinh những kĩ năng: Biết lắng nghe lựa chọn, tiếp nhận ý kiến của người khác để bổ sung vào sự hiểu biết của mình, đồng thời học sinh biết trình bày ý kiến của mình cho bạn nghe và học được công tác tổ chức, điều khiển.

Dạy học theo nhóm có nhiều hình thức khác nhau:

– Thảo luận về một vấn đề học tập.

– Tìm hiểu, điều tra về một vấn đề thực tế, hay trao đổi chung quanh một đề tài.

– Ôn tập tổng kết sau một bài hay một chương.

– Thực hiện một bài tập hay một nhiệm vụ học tập.

– Tiến hành một thí nghiệm hay một trò chơi học tập.

– Xây dựng một phương án hay một kế hoạch.

Dạy học theo lớp: Là một hình thức dạy học cơ bản, khá phổ biến trong dạy học lấy GV làm trung tâm. Trong dạy học lấy HS làm trung tâm, để xuất hiện nhiều hình thức dạy học phù hợp với các PPDH đề cao vai trò hoạt động nhận thức của học sinh. Dạy học theo lớp tuy có nhiều tác dụng tích cực, nhưng không diễn ra suốt buổi học mà chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, vào những lúc thích hợp của tiết học như vào đầu, giữa và cuối tiết học.

Dạy học ngoài trời: Có nhiều nội dung gần gũi, gắn với môi trường tự nhiên và xã hội xung quanh. Những bài học đó nếu có điều kiện nên tổ chức cho học sinh học ngoài trời những địa điểm thích hợp như vườn trường, sân trường hoặc những địa diểm gần trường. Vì việc học ngoài trời giúp học sinh có biểu tượng rõ nét, cụ thể về sự vật, hiện tượng nên nắm bài tốt hơn vì mắt thấy, tai nghe…Đồng thời rèn luyện kĩ năng quan sát, phát triển tư duy cụ thể. Mặt khác, bồi dưỡng tình cảm đối với thiên nhiên, thói quen hợp tác, học hỏi lẫn nhau.

Tham quan: Tham quan là một hình thức để học sinh được học ngoài hiện trường, thực tế như tham quan các xí nghiệp, đồng ruộng, khu chăn nuôi, nhà bảo tàng, khu di tích lịch sử, văn hoá hoặc rừng, sông, hồ, thác nước…

Tham quan có tác dụng nhiều mặt đối với sự phát triển của học sinh. Học sinh có điều kiện trực tiếp trong thực tế với các nội dung đã được học trong lớp nên lĩnh hội kiến thức dễ hơn, chắc hơn, nhớ kĩ hơn. Liên hệ thực tế với bài học HS phát triển kĩ năng quan sát, so sánh, óc tò mò, trí tưởng tượng, bồi dưỡng hứng thú học tập, tăng cường sự hiểu biết.

Trò chơi học tập: Đây là một loại hoạt động không thể thiếu được trong mọi lứa tuổi. Đặc biệt là những em ở lứa tuôi tiểu học nói riêng và học sinh lớp 1 nói chung. Trò chơi giúp các em phát triển. Bên cạnh đó sẽ thúc đẩy quá trình nhận thức của các em có hiệu quả. Vì vậy tổ chức trò chơi chú ý những đặc tính: Vui – Khoẻ – An toàn – Có ích; trong đó bao gồm cả giải trí, thư giản…được xem là một yếu tố cơ bản của trò chơi.

Trò chơi học tập là một hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn học sinh, có hai đặc điểm cơ bản sau:

+ Mục tiêu và nội dung trò chơi phục vụ cho kiến thức và kĩ năng trọng tâm của bài học, đó là nội dung chính của bài học.

+ Mang đầy đủ tính chất của một trò chơi: Có luật chơi, cách chơi, gây hứng thú và sự thi đua giữa học sinh các nhóm.

Quan trọng hơn vẫn là sau mỗi trò chơi học sinh càng ham thích hoạt động, tự tin ở bản thân, mạnh dạn khẳng định bản thân.Bên cạnh đó, tinh thần đồng đội, đoàn kết, sự quan tâm giữa những thành viên trong lớp

Tóm lại: Đổi mới PPDH cũng như đổi mới hình thức tổ chức dạy học, mục đích chính là nhằm vào đối tượng học sinh, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, tự giác của học sinh trong học tập, tập trung vào các vấn đề sau:

– Dạy học hướng tập trung vào học sinh: Phương pháp này làm cho học sinh chủ động, tích cực, sáng tạo và linh hoạt trong học tập.

– Dạy học nêu vấn đề: Là sự tổ chức quá trình dạy học bao gồm việc tạo ra tình huống có vấn đề trong giờ học, kích thích ở học sinh nhu cầu giải quyết vấn đề nảy sinh, lôi cuốn các em vào hoạt động nhận thức tự lực nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, phát triển tính tích cực trí tuệ và hình thành cho các em năng lực tự mình thông hiểu và lĩnh hội thông tin khoa học mới.

– Tăng cường tính tích cực, tư duy của học sinh khi giáo viên trình bày kiến thức bằng lời; phương pháp này sẽ củng cố hứng thú học tập của học sinh, nâng cao tính ham hiểu biết và tò mò trong quá trình thông hiểu các vấn đề nghiên cứu.

– Lời nói sinh động của giáo viên kết hợp với tính trực quan có hiệu quả to lớn trong việc dạy học. Việc dạy học trực quan không những làm cho quá trình học tập thêm sinh động mà nó còn góp phần rèn luyện tư duy phân tích, tập cho các em nhìn thấy bản chất của các đối tượng ẩn sau các hình thức và những biểu hiện bề ngoài, kích thích ham hiểu biết của học sinh.

– Cải tiến công tác tự học: Công tác tự học giữ vai trò lớn lao trong việc nâng cao tính tích cực hoạt động trí tuệ của học sinh khi thông hiểu và tiếp thu kiến thức mới, không phải vô cớ mà trong giáo dục học coi trọng sự nghiên cứu của cơ sở lí luận dạy học của việc tổ chức công tác tự học của học sinh.

– Ngoài 4 nội dung trên, thái độ ngôn ngữ truyền đạt, tình cảm quan hệ giữa giáo viên (GV) và HS cũng giữ vai trò hết sức quan trọng. Do đó đòi hỏi người GV phải là người mẫu mực, là tấm gương, là thần tượng của các em.

3.2.Tổ chức thực hiện:

3.2.1. Đối với việc học ở nhà:

– Cho học sinh lập thời gian biểu học ở nhà, ghi rõ từng công việc cụ thể gắn liền với thời gian cụ thể.

– Tổ chức họp phụ huynh từng kì để trao đổi vấn đề học tập của các em cho phụ huynh biết rõ đồng thời thông qua hội cha mẹ học sinh, kết hợp với cha mẹ học sinh để thăm dò quản lí việc học tập của các em.

– Thường xuyên đến thăm gia đình học sinh, đặc biệt là những em cá biệt,  những em yếu kém để phối hợp giáo dục có hiệu quả, phải có thông tin thường xuyên giữa gia  đình và giáo viên chủ nhiệm.

– Phát huy các phong trào học theo nhóm nhỏ (những em nhà ở gần nhau).

3.2.2. Đối với việc học ở lớp:

– Mượn thư viện của trường: Sách, đồ dùng học tập cho những học sinh còn thiếu.

– Duy trì nề nếp kiểm tra bài cũ, chữa bài tập thường xuyên với hình thức giáo viên hoặc cán sự lớp theo dõi kiểm tra.

– Kiểm tra thường xuyên về tinh thần, ý thức chuẩn bị đồ dùng học tập của các em thông qua tổ trưởng, lớp trưởng.

– Có hình thức nhắc nhở, khen thưởng cụ thể, kịp thời và hợp lí. Động viên, khuyến khích kịp thời những em chăm học và nhắc nhở những em lười học và không chú ý trong giờ học.

– Câu hỏi kiểm tra ngắn gọn, sát nội dung bài học và phù hợp với ba đối tượng học sinh: giỏi, khá, trung bình để học sinh nắm bài được tốt.

– Thường xuyên tổ chức cho học sinh hoạt động và thảo luận theo nhóm, tổ chức trò chơi hoặc sắm vai tuỳ theo môn học, bài học.

– Tạo hứng thú cho học sinh bằng cách nêu gương và thi đua giữa các tổ, nhóm hoặc giữa các cá nhân…

– Thay đổi phương pháp dạy học theo hướng tích cực cụ thể từng môn.

3.2.3. Đối với môn toán:

– Khi hướng dẫn HS trả lời bài cũ: GV yêu cầu HS trả lời ngắn gọn, nắm vững kiến thức trọng tâm, trả lời hoặc làm bài tập có liên quan đến kiến thức                                        đã học, hoàn thành bài với phép tính dễ hiểu với bước giải nhanh nhất.                         – Khi hướng dẫn học bài mới ở nhà: GV yêu cầu HS nghiên cứu bài tập ở nhà trước, đọc và tập làm một số bài tập trong sách giáo khoa.

– Khi đến lớp: GV sử dụng nhiều phương pháp như: Trực quan, đàm thoại, thuyết trình, thực hành. Bởi vì học sinh tiểu học, tư duy của các em là trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Do đó, GV phải sử dụng triệt để các dồ dùng dạy học (ĐDDH). Bên cạnh đó GV nên dành nhiều thời gian cho HS thực hành nhằm phát huy óc tưởng tượng, tư duy sáng tạo của các em. Sau mỗi dạng bài chúng ta nên cho HS chốt kiến thức bài đó.

– Tạo hứng thú cho các em bằng cách: Tổ chức thi giải toán nhanh; đố vui để học hoặc trò chơi học tập; thi điền đúng điền nhanh kết quả giữa các cá nhân, giữa các tổ, nhóm… Sau đó cho học sinh cả lớp nhận xét, đánh giá, GV bổ sung và tuyên dương, khen thưởng, khuyến khích tinh thần cố gắn học tập để các em lần sau thêm tự tin.

* VD: Toán : Bài phép trừ trong phạm vi 4

Khi hướng dẫn hs thực hiện phép trừ trong phạm vi 4, để giúp hs dễ dàng hình dung ra thế nào là trừ( trừ là lấy đi, mất đi , cho đi) thì gv phải sử dụng hình ảnh trực quan: tranh ảnh hoặc thao tác trên vật thật để hs dễ dàng

hình dung.

Hình 1: Phép trừ trong phạm vi 4

Bài 1: Tính

4 – 1 =                4 – 2 =             3 + 1 =                1 + 2 =

3 – 1 =                3 – 2 =             4 – 3 =                 3 – 1 =

2 – 1 =              4 – 3 =                4 – 1 =                 3 – 2 =

Bài này GV có thể tổ chức cho HS hoạt động nhóm 4, mỗi nhóm thực hiện một cột, nhóm trưởng hướng dẫn các thành viên trong nhóm thực hiện

Hình 2 : Hoạt động nhóm

Cuối bài, để củng cố lại bảng trừ trong phạm vi 4, giáo viên có thể tổ chức cho HS tham gia trò chơi tiếp sức. Tổ chức thành 2 đội, mỗi đội 5 hoặc 4 HS. Sau khi GV ra hiệu lệnh từng thành viên các đội tuyền tay nhau tìm kết quả . Đội nào tìm nhanh, đúng được nhiều kết quả đội đó chiến thắng

Hình 3: Trò chơi học tập” Tiếp sức”

 3.2.4. Đối với môn Tiếng việt:

– Khi hướng dẫn học sinh trả lời bài cũ: Yêu cầu học sinh đọc bài và trả lời câu hỏi ngắn gọn, đúng nội dung và đảm bảo kiến thức trọng tâm, mức độ hoàn thành từ 50% trở lên.

– Khi hướng dẫn HS học bài mới ở nhà, GV yêu cầu:

+ Đối với phân môn Tập đọc: Yêu cầu HS đọc bài trước, tìm hiểu kĩ cách đọc, tập đọc diễn cảm và trả lời câu hỏi trong sách giáo khoa.

+ Đối với phân môn Chính tả: Yêu cầu học sinh đọc trước bài cần viết, tập chép bài đó vào vở ở nhà.

– Khi dạy bài mới: GV sử dụng triệt để các ĐDDH có liên quan đến bài học, sử dụng phương pháp: Trực quan; đàm thoại; giảng giải; hỏi đáp; thực hành; phân tích; tổng hợp; tổ chức cho học sinh hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai…

Đặc biệt phương pháp trực quan, hoạt động nhóm và hoạt động sắm vai giúp cho HS có hứng thú học tập và giúp cho học sinh học sôi đông hơn. Từ đó tăng hiệu quả giờ học, còn phương pháp thực hành thì  giúp các em biết vận dụng kiến thức vào thực tế và củng cố kiến thức cho các em.Tạo hứng thú cho các em bằng phương pháp nêu gương, thi đua giữa các cá nhân, giữa các nhóm, tổ… qua các trò chơi học tập…

 

* VD: Học âm /gi/ – Tiếng việt CGD lớp 1

Trong bài học vần này GV có thể sử dụng một số phương pháp dạy học phát huy tính tích cực cho HS như sau:

Việc 0: Tiến hành bình thường

Việc 1: Trong phần tìm tiếng mới bằng cách cho HS thay thanh, thay phụ âm đầu trong mô hình:

 

GV có thể tổ chức trò chơi”Bắn tên” hoặc trò chơi” Xì điện” để HS tìm ra được nhiều tiếng mới vừa tạo không khí lớp học sôi nổi hơn, vừa rèn cho HS kĩ năng điều hành hoạt động học tập trong lớp

Hình thức trò chơi” Bắn tên” như sau:

Gọi 1 HS lên điều hành trò chơi, Khi HS này hô bắn tên, bắn tên cả lớp hô đồng thanh tên gì tên gì, khi đó người điều hành sẽ chỉ tên 1 bạn trong lớp, bạn đó sẽ phải đọc lên tiếng mới mà mình vừa tìm được. Ai không nêu được tiếng mới hoặc nêu sai là người thua cuộc.

Hình 4: Trò chơi” Bắn tên”

* DV: Dạy viết chữ  /gi/:  GV có thể sử dụng phương pháp trực quan, cho HS quan sát chữ gi in thường và gi viết thường trên tranh theo mẫu chữ viết của Bộ Giáo dục, yêu cầu HS nhận xét độ cao độ rộng chữ, so sánh chữ gi in thường và gi viết thường, chữ gi viết thường có nét giống con chữ nào đã học Sau đó GV viết mẫu, hướng dẫn HS cách viết

Như vậy cùng một lúc GV đã rèn cho HS hình thành các kĩ năng (nghe,nhìn, tổng hợp, so sánh) từ đó các em ghi nhớ lâu hơn, cụ thể hơn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN

Ở trường Tiểu học hiện nay nói chung và lớp 1A tôi đang nghiên cứu nói riêng, với PPDH mới kết hợp với hình thức tổ chức  dạy học mới (Dạy học cá nhân, theo nhóm, theo lớp, dạy học ngoài trời, tham quan, trò chơi học tập..) đã làm cho HS học tập một cách tích cực, tự giác, độc lập và sáng tạo.Mặt khác còn kích thích được phong trào thi đua học tập trong lớp . Do đó, kết quả mang lại rất khả quan; nhiều em rụt rè nay đã hăng say phát biểu xây dựng bài, lớp học sôi nổi, HS hứng thú, tiếp thu kiến thức nhanh chóng, DH theo hướng đổi mới sẽ huy động được năng lực, nghệ thuật sư phạm của GV. Thực tế cho thấy rằng người GV không chỉ cung cấp cho HS những tri thức, kĩ năng cần thiết mà còn truyền đến cho các em cả lương tâm, tình cảm và trách nhiệm của chính mình.

* Kết quả khảo sát học kì I

Đánh giáđịnh kì Điểm 9- 10  Điểm 7 – 8 Điểm 5 – 6  Điểm dưới 5
SL TL SL TL SL TL SL TL
Tiếng việt 13 62% 7 33% 1 5%
Toán 17 81% 4 19%

 

Đánh giáthường xuyên Hoàn thành tốt(T) Hoàn thành(H) Chưa hoàn thành(C)
SL TL SL TL SL TL
Tiếng việt 13 62% 8 38%    
Toán 17 81% 4 19%    
Đạo đức 15 71% 6 29%    
Âm nhạc 10 48% 11 52%    
Mĩ thuật 9 42% 12 58%    
Thủ công 12 58% 9 42%    
Thể dục 14 67% 7 33%    

 

 

 

 

 

PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. KẾT LUẬN

Qua những lần đi tìm hiểu thực tế hoàn cảnh gia đình HS và đặc biệt là những giờ thực tập giảng dạy. Bản thân tôi đã rút ra cho mình những bài học bổ ích.

Dạy học vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật. Muốn dạy học có hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu đào tạo hiện nay của Đảng và Nhà nước. Đòi hỏi người GV phải nổ lực, sáng tạo, không ngừng cải tiến phương pháp để nâng cao hiệu quả giảng dạy.

  1. Về công tác giảng dạy:

Muốn nâng cao hiệu quả và học tập hứng thú trong quá trình giảng dạy, đòi hỏi người giáo viên phải chuẩn bị: kế hoạch dạy học, hệ thống câu hỏi:

– Thâm nhập kĩ giáo án, hiểu rõ ý đồ sách giáo khoa .

– Có thiết kế khoa học, hệ thống câu hỏi ngắn gọn rõ ràng dễ hiểu.

– Lựa chọn phương pháp dạy học, có hiểu quả.

– Sử dụng tốt các câu chuyển ý, chuyển đoạn, tạo ra sự liên kết chặt chẽ, lôgic

của bài dạy.

– Sử dụng tối đa ĐDDH và có hiệu quả trong từng tiết dạy, trong từng môn học.

– GV phải có vốn hiểu biết nhất định và kiến thức xã hội.

– GV cần tạo điều kiện để HS tích cực, chủ động, sáng tạo chiếm lĩnh tri thức.

– Thực hiện tốt chỉ thị  “Hai không” của Bộ GDĐT; bám sát chủ đề năm học để lên kế hoạch tháng, tuần cho phù hợp và khoa học.

Để đạt được những mong muốn đó, bản thân tôi ngay từ bây giờ tôi xác định rằng muốn trở thành một người GV thực sự thì trước hết phải có lòng yêu nghề, mến trẻ, lòng say mê nghề nghiệp và ý chí quyết tâm cao. Phải có ý thức trách nhiệm đối với bản thân, đối với nghề nghiệp và xã hội.

Để chuẩn bị cho một giờ lên lớp, GV cần phải chuẩn bị rất chu đáo về mọi công việc như: ĐDDH, giáo án và thâm nhập giáo án một cách kĩ càng. Khi đứng lớp phải bình tĩnh, tự tin, tác phong nhanh nhẹn, ngôn ngữ truyền đạt rõ ràng để làm sao hướng đẫn HS cho hiểu nội dung bài một cách dễ dàng. Đồng thời khai thác nội dung để phát huy tính sáng tạo của HS khá, giỏi.

  1. Về công tác chủ nhiệm:

GV chủ nhiệm có một vai trò hết sức quan trọng, GV chủ nhiệm thường là người dạy chủ yếu của lớp, đồng thời tổ chức lãnh đạo, điều hành, kiểm tra đánh giá mọi hoạt động và mối quan hệ ứng xử trong phạm vi lớp mình phụ trách, nhằm hình thành nhân cách của HS. Với vai trò, vị trí như vậy GV chủ nhiệm còn là cầu nối liền giữa nhà trường với đời sống xã hội.

Để trở thành người GVCN giỏi thì ngoài những công việc trên, người GV phải rèn cho mình những năng lực sau:

– Phải quan tâm chăm sóc, gần gũi với học sinh.

– Phải xây dựng nề nếp học tập tốt, có quy định về nội quy của lớp.

– Phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc các em thực hiện tốt nội quy,nề nếp của trường, lớp.

– Xây dựng và phát triển quan hệ, kết hợp với lực lượng giáo dục trong và

ngoài nhà trường theo phương châm xã hội hóa giáo dục nhằm mục tiêu giáo dục học sinh.

Thông thường trẻ ở Tiểu học tin tưởng tuyệt đối vào GV, đặc biệt là GVCN. Do đó phẩm chất và năng lực của GVCN là nhân tố hết sức quan trọng đối với việc đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung.

  1. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT
  2. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:

– Cung cấp kịp thời việc đổi mới phương pháp hoạt động.

– Nên  duy trì thường xuyên tổ chức hội thảo, chuyên đề về công tác dạy học.

2.Đối với nhà trường:

– Quán triệt hơn nữa tinh thần học tập của học sinh.

– Có thêm nhiều sách tham khảo.

– Trường phải có biện pháp cứng rắn đối với những HS thường xuyên nghỉ học hay bỏ học.

  1. Đối với địa phương, gia đình:

– Gia đình phải chú trọng  quan tâm đến việc học hành của con cái nhiều hơn.

– Gia đình cần dành nhiều thời gian giám sát việc học ở nhà của con em.

– Cần mua sắm sách vở, đồ dùng học tập cho học sinh đầy đủ.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

  1. Phạm Minh Hạc (1996), Tâm lí học, NXB. Giáo dục
  2. Nguyễn Đức Hoành (2006), Chuyên đề : Một số Phương pháp và Hình thức tổ chức dạy học
  3. Nguyển Sinh Huy (1997), Giáo dục học, NXB.Giáo dục
  4. Luật giáo dục (NXB Chính trị Quốc Gia-1998)
  5. 5. Dự án Giáo dục tiểu học cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn (Bộ GDSX năm 2005)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT. 1

  1. PHẦN MỞ ĐẦU.. 2
  2. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: 2
  3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU : 3

III.NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU: 3

  1. ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU.. 3
  2. Đối tượng nghiên cứu: 3
  3. Khách thể nghiên cứu: 3

V.PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 4

  1. PHẦN NỘI DUNG.. 6

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN.. 6

1.1 Thế nào là tích cực, tự giác?. 6

1.2. Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh. 7

1.3. Tác dụng của dạy học tích cực. 7

CHƯƠNG II. CƠ SỞ THỰC TIỄN.. 9

2.1. Đặc điểm chung của lớp 1B.. 9

2.2 Thực trạng của vấn đề. 9

CHƯƠNG III: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC, TỰ GIÁC TRONG HỌC TẬP CỦA HỌC SINH.. 11

3.1. Biện pháp phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh lớp1: 11

3.2.Tổ chức thực hiện: 15

3.2.1. Đối với việc học ở nhà: 15

3.2.2. Đối với việc học ở lớp: 15

3.2.3. Đối với môn toán: 16

3.2.4. Đối với môn Tiếng việt: 18

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ THỰC HIỆN.. 21

PHẦN C: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ. 22

  1. KẾT LUẬN.. 22
  2. KIẾN NGHỊ ĐỀ XUẤT. 23

TÀI LIỆU THAM KHẢO: 25